Điện Hạt Nhân:
Nên dè dặt đối với những
luận điệu tuyên truyền của ngoại quốc
Lò thế hệ
III EPR ( European Pressurized Reactor ) sẽ có công suất 1 600 MW
thay vì 1 450 MW như
đã nêu.
Trong số các lò thế hệ IV đang được
10 nước nghiên cứu
(Generation IV International Forum – GIF), lò nhiệt độ cao VHTR (
Very High Temperature Reactor ) 850° C sẽ có hiệu suất rất lớn 50 %.
Tôi không đồng ý về những
con số ghi trong bài nghiên cứu”the
future of nuclear power” năm 2003 của MIT (Massachusetts Institute
of Technology). Bài này quá lạc quan chỉ thỏa mãn những
mơ ước hão huyền của những
công ty muốn xây cất hàng loạt nhà máy ĐHN khắp 5 châu. Không phải
vô tình mà họ thổi phồng những
tỷ lệ ĐHN của một số nước.
Mục đích của họ là đánh tan sự
nghi ngờ
của thế giới đối với thị trường
ĐHN bị chìm lặng đã gần 30 năm trời.
Tôi đã có dịp trình bày những
lý do vì sao cơn khủng hoảng ĐHN trở nên trầm trọng thêm (mở cửa
thị trường điện lực,
thời gian thu lại vốn quá dài, chống đối của dân chúng...). Xin nhắc
lại đây vài chi tiết quan trọng :
·
Tỷ lệ ĐHN
6,5 % trong tổng kết nhu cầu năng lượng
sơ cấp toàn cầu không thay đổi từ
nay đến 2020.
·
Đến 2020,
tổng công suất ĐHN thế giới sẽ hạ xuống còn 320 000 MW thay vì
358 000 MW hiện nay.
Như thế có nghĩa là từ 2020 đến 2050, tỷ lệ ĐHN không thể nào nhẩy
vọt một cách nhanh chóng và công suất những lò hạt nhân trên thế
giới không thể tăng gấp ba, lên đến 1 000 000 MW !
Ta có thể tính được số lò ĐHN rất lớn mà Mỹ và Nhật phải ồ ạt xây
cất để đạt tý lệ 50% và 60% vào nửa thế kỷ tới.
Với nhịp độ này sẽ có vấn đề thiếu địa điểm tốt để xây cất nhà máy,
thiếu công ty chế tạo lò để sản xuất, thiếu nhiên liệu Uranium giàu!
Đối với nhà đầu tư tư
nhân, ĐHN kinh tế hay không là câu hỏi đầu tiên quan trọng nhất, bất
kể các vấn đề an toàn, chất thải phóng xạ, tai nạn rủi ro, khủng bố,
chống hiệu
ứng
nhà kính, môi trường...
Đừng quên rằng Mỹ hết sức
thận trọng về vấn đề an toàn và luật lệ, họ chờ xem hiệu quả các lò
thế hệ IV ra đời, sớm lắm cũng không trước 2035-2040.
Đến chân trời này, năng lượng tái tạo như
gió, mặt trời đã trở nên kinh tế và có thể cạnh tranh với dầu, khí,
mà giá sẽ tăng vọt lên vì các mỏ bắt đầu khan hiếm!
Tôi đã cho biết là hiện nay giá ĐHN ở Mỹ cao hơn giá điện chạy than
hay khí ít nhất là 60 %. Sau đây là những
con số mà ông Thomas B. Cochran, giám đốc NRDC’s nuclear program đã
công bố ở Mỹ ngày 15/4/2004 :
|
Nhà máy
( vận hành 40 năm ) |
Cents USD/kWh |
|
ĐHN |
6,7 |
|
Than |
4,2 |
|
Khí (giá trung bình ) |
4,1 |
|
Khí (giá hạ ) |
3,8 |
Đứng về phương
diện kinh tế, ĐHN ở Mỹ chỉ có thể phát triển trở lại ngày nào chính
phủ đánh thuế carbone (carbon tax) từ
100 USD/tấn C đến 200 USD/tấn C tùy nhà máy chạy than hay khí.
Pháp đã tuyên bố sẽ dần dần hạ tỷ lệ ĐHN 77 % hiện nay để tăng phần
năng lượng
tái tạo.
Ở Nhật sau những
sự
cố đa xảy ra gần đây, dư
luận
mất nhiều tin tưởng ở ĐHN, nên khó phát triển mạnh.
Trung Quốc và Ấn Độ, với
nhu cầu quá lớn, cực
chẳng đã, phải tiếp tục xây dựng
một số lò thế hệ II PWR ( Pressurized Water Reactor ) vì không thể
chờ đợi lò thế hệ IV. Tuy nhiên, tỷ lệ ĐHN ở hai nước
này cũng không thể đạt mức
30 % vào năm 2050.
Philippines tuy đã bỏ ra 2,3 tỉ USD để xây cất nhà máy ĐHN Bataan
năm 1976, gần xong năm 1984 thì phải đóng cửa
vì sợ động đất và vì địa điểm không tốt, ở không xa núi lửa
Pinatubo.
Riêng ở nước ta, nếu muốn có tỷ lệ ĐHN 20 % từ
2020 đến 2050, Công ty điện lực
Việt Nam phải xây cất trung bình mỗi năm 2 lò ĐHN, đây không phải là
một chuyện dễ !
Nói rằng
Việt Nam chỉ có thể dùng lò PWR thì tôi không đồng ý chút nào. Trong
số 436 lò đang vận hành ở 33 nước
trên thế giới, gần 75 % thuộc kiểu PWR, nên kinh nghiệm gặt hái với
loại lò này rất lớn, điều ấy không ai chối cãi được. Tuy nhiên, lò
PWR (cũng như
lò EPR vì cùng một kỹ thuật) được nhiều chuyên gia xem như
đã lỗi thời!
Nói rằng lò PWR an toàn hơn lò RBMK của Nga vì có thêm nhà giam hãm
(enceinte de confinement) là đúng nhưng
không vì thế mà đương nhiên sẽ tránh khỏi những
tai biến rùng rợn, xếp ở cấp 7 cao nhất của thang độ ( Echelle INES
– International Nuclear Event Scale ) như
Tchernobyl.
Nếu không,
tại sao phải bỏ bạc tỷ USD để nghiên cứu
lò thế hệ IV? Và tại sao EDF(Electricite de France) không tiếp tục
dùng lò PWR cho kinh tế và dễ khai thác hơn mà phải chuẩn bị mua lò
EPR để lần lượt thay thế những lò đến tuổi phải thôi vận hành?
Bảo rằng không có con đường nào khác ĐHN thì phủ nhận vai trò hết sức
quan trọng, đối với nhân loại và đối với đất nước ta, của các chiến
lược
tiết kiệm năng lượng
và những
chương
trình phát triển năng lượng
tái tạo.
Vì cớ gì ta lại phải tự ràng buộc, hấp tấp mua lò PWR để cho vận
hành năm 2017-2020? Các độc giả nghĩ như
thế nào nếu chúng ta hứa
sẽ tặng các cháu gái 5-7 tuổi ở Ninh Thuận, nếu học ngày đêm đứng
nhất nhì trong lớp, 2 xe hoa 4 cv Renault (kiểu taxi Saigon, xuất
hiện cùng thời
điểm với kỹ thuật lò PWR của tàu ngầm Mỹ Nautilus năm 1954) đưa về
nhà chồng cho oai với láng giềng, trong ngày hôn lễ 15 năm tới?
Grenoble, 7/ 07/ 2004