PV.
Nghe những ý kiến phản bác đó, GS nghĩ gì?
Trước hết, tôi muốn bình luận ý kiến của một chuyên gia Nhật
Bản đến Viện NCHN Đà Lạt dự hội thảo và được đưa lên VTV1
gần đây. Ông ta nói nước Nhật vận hành hơn 50 lò phản ứng
rất an toàn, do đó các bạn VN nên nhanh chóng xây dựng nhà
máy điện hạt nhân (ĐHN), không có gì phải lo lắng.
Sự thực, hơn mười năm gần đây Nhật Bản đã giữ kỷ lục thế
giới về các tai nạn ĐHN, khiến những ai chống đối ĐHN càng
tin rằng họ có lý (may quá, không có tôi trong số này!). Đó
là những sự cố lò nơ trôn nhanh Monju (1995) khiến phương
hướng năng lượng sống còn, nhưng rất tốn kém này của nước
Nhật phải bị đình chỉ; tai nạn xảy ra ở nhà máy xử lý nhiên
liệu Tokaimura năm 1999 do những sai sót hết sức ngớ ngẩn đã
làm chết hai kỹ thuật viên, 600 người bị chiếu xạ, 320.000
người dân địa phương được yêu cầu không ra khỏi nhà; vụ bịa
đặt số liệu kiểm tra nghiêm trọng ở tập đoàn TEPCO bị phác
giác (2003) khiến 17 lò phản ứng với tổng công suất lên đến
16 nghìn mê ga oát của tập đoàn này phải đóng cửa nhiều
tháng trời v.v...
Nhân đây tôi xin nói rằng một số công ty nước ngoài muốn bán
nhà máy cho ta đã không ngần ngại dụ dỗ và tuyên truyền một
chiều trong các hội thảo khoa học, triển lãm, tổ chức hàng
trăm lượt người đi tham quan nhà máy ĐHN như những khách
VIP. Mắt thấy tai nghe để ủng hộ ĐHN là việc nên làm, nhưng
lạm dụng chuyện này để bán nhà máy mà không đả động gì đến
thực trang an toàn nhà máy ĐHN và trình độ còn thấp của
chúng ta là rất nguy hiểm.
PV. Và họ đã thành công?
Đúng thế, đến thăm nhà máy ĐHN, tai bạn không nghe một tiếng
động, mũi bạn không thấy bốc mùi, khói đen kịt không thoát
ra từ ống khói như nhà máy điện chạy than thông thường. Trái
lại, mắt bạn bị choáng ngợp bởi các thiết bi hiện đại, sáng
choang. Nhưng bạn không thể nào hình dung được sức “công
phá” ghê gớm của hàng tỷ cu ri chất phóng xạ bị nhốt bên
trong khối bê tông kia một khi con “quỷ dữ đó sổng chuồng”.
Chỉ cần vài cu ri trong số hàng tỷ cu ri đó cũng đủ chết
người.
Đây chính là câu chuyện an toàn từng làm cho dân chúng ở
nhiều nước tiên tiến “nói không” với ĐHN, làm cho ĐHN dẫm
chân tại chỗ trong nhiều thập kỷ liền. Nước nào làm ĐHN cũng
phải tính đến chuyện này như vấn đề sống còn của cả dân tộc.
Cho nên rất dễ hiểu khi thấy Phần Lan, nước châu Âu độc nhất
đang xây lò phản ứng, lại phải chịu bỏ tiền ra mua lò đắt
nhất của Pháp vì mục tiêu an toàn trên hết. Chưa hết, họ
đang trễ tiến độ đến gần hai năm
cũng chính vì để bảo đảm an toàn.
Mà ĐHN có an toàn hay không đâu phải là chuyện thuần túy kỹ
thuật như các công ty thường ve vãn. Đây là vấn đề con
người, cụ thể là trình độ chuyên gia, quản lý, thực thi luật
pháp và hạ tầng cơ sở. Tất cả những tai nạn hạt nhân đến nay
đều do con người gây ra.
Người ta cố tình lờ đi những chuyện này cốt sao VN sớm ra
quyết định làm ĐHN, xây một lúc càng nhiều lò càng tốt. Mục
tiêu trước mắt của họ là bán được nhà máy, sau đó ... sẽ
tính tiếp!
PV. Xin GS nói rõ hơn tính tiếp là thế nào?
Sẽ tốt đẹp nếu ta có đủ người am hiểu, làm chủ được công
nghệ phức tạp, lại có hệ thống luật pháp nghiêm minh, biết
quản lý theo công nghiệp hiện đại. Song chúng ta đang thiếu
tất cả những thứ đó. Giả sử nếu năm 2009 Quốc Hội quyết định
xây nhà máy ĐHN thì năm 2010 các chuyên gia sẽ phải vào cuộc
để quyết định những việc hệ trọng ở tầm chuyên môn sâu nhằm
khởi động dự án, như chọn công nghệ, ra bài thầu, xét duyệt
các phương án thiết kế và xem xét chu đáo tác động đến môi
trường của rất nhiều hạng mục công trình. Ai làm việc này?
Có thể kể đến một số anh em có kinh nghiệm vận hành lò phản
ứng hạt nhân Đà Lạt, nhưng chưa thể nói đây là các chuyên
gia ĐHN, vả lại số người này cũng không thấm vào đâu. Vậy
phải phó thác những quyết định lớn cho người nước ngoài
chăng?
Cái nữa mà chúng ta thiếu, và đáng sợ, là tính kỷ luật và
chấp hành quy trình quy phạm công nghiệp. Nhìn quang cảnh
giao thông hỗn loạn trên đường phố ta sẽ liên tưởng ngay đến
ĐHN. Nhà máy ĐHN không thể là một ốc đảo bình yên trong một
môi trường mà entropy và tính hỗn độn ngày một gia tăng như
hiện nay. Trong hoàn cảnh đó, rất cần những người quản lý
nghiêm túc, có hiểu biết, không được hớ hênh và chủ quan.
Cấp trên của họ lại càng như vậy. Cho nên, những phát ngôn
gần đây của một số người thuộc cơ quan chức năng khiến cho
công chúng hết sức lo ngại. Có thể họ có thiện ý tuyên
truyền cho ĐHN, nhưng hóa ra gậy ông lại đập lưng ông.
Các công ty nước ngoài rất hiểu tình trạng này của chúng ta.
Họ tin rằng đằng nào ta cũng phải trông chờ vào sự điều
khiển của họ trong mọi khâu sau này. Kịch bản tương lai là
thế đó! Rồi biết đâu nhà máy ĐHN sẽ trở thành một thứ con
tin trong tay họ.
PV. Vậy không thể nói nhà máy ĐHN chẳng khác gì nhà máy điện
chạy than thông thường, chỉ một bên được đốt bằng than, bên
kia bằng hạt nhân?
Tôi nghĩ, khi nghe những ý kiến kiểu này, người nào chưa
“sợ” ĐHN, ắt phải “sợ”, ai đã “sợ” rồi chắc phải ... khiếp!
Bởi ĐHN nằm trong tay những người chỉ cưỡi ngựa xem hoa rồi
xem trời bằng vung. Tôi không tin rằng những người hoạch
định chính sách ở cấp cao sẽ nghe theo họ.
PV. Vậy đào tạo nhân lực trình độ chuyên gia bằng cách nào?
Đào tạo người vận hành thì dễ, vài năm là xong, thậm chí dễ
ợt theo cách nói của một vị quan chức mới đây
[i].
Đào tạo chuyên gia mới khó. Các cơ sở đào tạo trong nước
hiện không đủ điều kiện, vì ĐHN không thể dạy chay, mà ngay
cả người dạy chay cũng thiếu. Chúng ta chỉ dạy cho thoát nạn
“mũ chữ hạt nhân” thôi. Đầu vào lại rất thiếu, lớp trẻ có
năng lực không thích vào ngành này. Dù sao, vẫn cứ phải tổ
chức lại và nâng cấp các cơ sở hạt nhân ở trường và viện để
đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho lâu dài.
Nhìn ra nước ngoài, tôi cũng không hy vọng họ sẵn lòng đào
tạo chuyên gia, nhất là trao các hiểu biết công nghệ về ĐHN
cho ta. Vậy chỉ còn cách là tập hợp những người ưu tú nhất
hiện có và tổ chức tự đào tạo qua công việc. Cho nên, tôi
kiên trì ý kiến trước mắt chỉ xây dựng một lò 1000 mê ga
oát, lấy đó làm trường đào tạo, xây dựng và thử thách cơ sở
hạ tầng của chúng ta, đặc biệt là hệ thống quản lý và
thực thi pháp luật an toàn hạt nhân. Thành công của dự
án này không chỉ là đưa một lò phản ứng vào vận hành, mà
chính là qua đó đặt những nền tảng ban đầu cho cả quá trình
phát triển ĐHN sau này. Nghĩ mãi, tôi không thấy cách nào
khác. Đốt cháy giai đoạn, hậu quả khôn lường!
PV. Nhưng có người lại bảo xây luôn bốn lò cũng tốn từng ấy
người và xác suất xảy ra sự cố cũng chẳng khác gì xây một lò
mà lại kinh tế hơn?[ii]
Chao ôi! Không biết vị này du nhập thứ triết lý kỳ quặc này
từ đâu mà cho rằng xây bốn lò cũng tốn từng ấy người và xác
suất xảy ra sự cố cũng giống như xây một lò. Còn kinh tế
hơn, thì có thể, nhưng chỉ có lợi cho bên bán thiết bị thôi.
Mà tiêu chí của chúng ta là an toàn cho dân chúng hay kinh
tế? Nếu có một quyết định nào đó sai lầm trong khi xây đồng
thời bốn lò thì “quay đầu” lại bằng cách nào? Có tốn kém hơn
không?
PV. Lại có ý kiến cải chính rằng bốn lò sẽ xây gối đầu nhau
chứ đâu cùng một lúc?
Thế này nhé, muốn 2020 có ĐHN ngay từ 2013 ta phải động thổ
lò thứ nhất, đến 2017-18 phải động thổ lò thứ tư. Vậy từ đó
trở đi không phải xây đồng thời bốn lò là gì? Chuyện hiển
nhiên vậy mà một số người vẫn thích chơi trò tù mù!
PV. GS nhấn mạnh đến vấn đề an toàn hạt nhân. Để minh họa,
GS có thể kể lại một vài trải nghiệm đối với lò phản ứng Đà
Lạt (LPUĐL) mà GS từng chỉ huy xây dựng và vận hành?
Theo kế hoạch, LPUĐL phải được nạp nhiên liệu vào ngày
20/10/1993 để kịp khởi động vật lý trước ngày 1/11/1993 chào
mừng 5 năm ký kết hiệp ước hữu nghị Việt Xô và cách mạng
tháng Mười Nga (7/11). Cả phía ta và bạn đều yêu cầu vậy.
Vào ngày 20, tôi quyết định dùng một chiếc xe che bằng chì
chống tia phóng xạ để leo xuống đáy lò xem xét tình trạng
dưới đó. Tôi thấy dưới đáp lò nước quá bẩn, nếu cho thêm
nước cất hai lần vào cho đầy thùng (20 m3), e rằng các thanh
nhiên liệu có thể sớm bị dỉ và thủng, gây ra dò dỉ chất
phóng xạ. Tôi quyết định không thể nạp nhiên liệu khi chưa
làm sạch đáy lò trước sự phản đối của các bạn Liên Xô, sợ
không kịp tiến độ. Tôi cũng tổ chức họp để thuyết phục các
đồng nghệp VN.
Cũng theo kế hoạch, sau ngày nghỉ lễ cách mạng tháng Mười
(7/11), các chuyên gia Liên Xô sẽ cùng với phía ta khởi động
năng lượng và đưa lò vào vận hành ổn định trước cuối tháng
12, sau đó họ sẽ về nước ăn Tết. Ngày 10, trước khi vào
việc, tôi yêu cầu rút một thanh nhiên liệu từ dưới lò lên
xem xét (lúc này thanh nhiên liệu chỉ nhiễm xạ rất ít). Mọi
người bàng hoàng khi thấy vỏ thanh nhiên liệu vốn sáng loáng
trước khi nạp vào lò, bây giờ trở nên xám xịt, không rõ vì
sao. Tôi quyết định dừng mọi kế hoạch lại để nghiên cứu xem
chuyện gì đã xảy ra, cử trưởng đoàn chuyên gia về nước mang
theo một thanh nhiên liệu giả và một lít nước lò để các nhà
khoa học Liên Xô tham khảo. Đồng thời đề nghị nhà nước bỏ
tiền ra ký hợp đồng gia hạn đoàn chuyên gia Liên Xô thêm ba
tháng nữa. Các bạn Liên Xô bắt buộc phải chấp nhận quyết
định của tôi mặc dù rất buồn vì không được về nước đoàn tụ
gia đình trong dịp năm mới.
Nhiều người bảo tôi bướng, làm phật ý cấp trên và mất lòng
các bạn Liên Xô. Nhưng trong hơn 25 năm qua, chưa bao giờ
tôi ân hận về các quyết định đó. An toàn là trên hết. Nếu
không có những quyết định đó, chắc gì LPUĐL làm việc ngon
lành cho đến tận bây giờ.
Xin cảm ơn ông
Phạm Duy Hiển
Phỏng vấn do Mỹ Hằng
thực hiện