RFI Phỏng Vấn về EPR

03/06/2012

Trang Chủ
ĐIỆN HẠT NHÂN
ĐIỆN NHIỆT HẠCH HẠT NHÂN
NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
KINH-TẾ
HỆ THỐNG DÂY CAO THẾ
Louis Néel, Nobel Vật lư, một Giáo sư lư tưởng
Louis Néel, un prix Nobel de Physique exceptionnel

Trang Chính
Nên Thận Trọng Về ĐHN
Trả Lời Câu Hỏi ĐHN
Tại Sao Chưa Nên ĐHN
ĐHN Không Kinh Tế
Plutonium: 240 Thế Kỉ!
ĐHN: Nên Dè Dặt Với...
RFA Phỏng Vấn
RFI Phỏng Vấn về EPR
RFI Phỏng Vấn ĐHN-2
Phỏng Vấn GS NKN về Tchernobyl
RFI Phỏng Vấn Hợp Tác EDF
Intervention de Nguyen-Khac-Nhan
Điện Hạt Nhân Không Kinh Tế
Phản-Đối Việc Xây ĐHN (RFA)
Lo-Ngại Về ĐHN tại VN (BBC trích-đoạn)
Phản-Đối Dự-Án ĐHN (BBC)
RFA Phỏng Vấn GS Nhẫn (14/04/2010)
Hết Sức Thận Trọng với Điện Hạt Nhân
Fukushima: Một Cảnh Cáo Đối Với Nhân Loại
Việt-Nam Nên Dừng Chương-Tŕnh Hạt Nhân
Có Nên Xây Nhà Máy ĐHN?
Nguy Hiểm Và Bất Lợi của ĐHN
Đức Rút Khỏi Điện Hạt Nhân
Assez de mythes
Hăy Bảo Vệ Việt Nam Hôm Nay (1)
Hăy Bảo Vệ Việt Nam Hôm Nay (2)
Dự án hạt nhân Việt Nam quá tham vọng
Năm 2020 Ấn Nút Mấy Ḷ Phản Ứng
Đốt Cháy Giai Đoạn, Hậu Quả Khôn Lường
Không thể để NinhThuận trở thành Fukushima
Một năm sau thảm họa hạt nhân Fukushima
Điện hạt nhân Việt Nam đi lùi 50 năm
Hăy Bảo Vệ Việt Nam Hôm Nay (3)
Giáo sư Koide Hiroaki nói về Điện Hạt Nhân
Để Ninh Thuận khỏi trở thành Tchernobyl
Eviter un Tchernobyl à Ninh Thuan

TS Nguyễn Khắc Nhẫn,

Nguyên Cố vấn Nha kinh tế, d báo, chiến lược EDF Paris,

GS Viện kinh tế, chính sách năng lượng Grenoble,

GS Trường Đại học Bách khoa Grenoble.


Download [ PDF ]

 

Nghe bài phỏng vấn:

 

 

 

 

Bài phỏng vấn GS Nguyễn Khắc Nhẫn về ḷ EPR

Đài phát thanh RFI (Radio France Internationale) ngày 19/04/06

 

 

RFI : Kể từ sau thảm họa Tchernobyl, năm 1986, nhiều quốc gia Châu Âu đă có kế hoạch từng bước từ bỏ điện hạt nhân (ĐHN), như Thụy Điển, Ư, Bỉ, Đức. Xu hướng này cũng xuất hiện tại Hà Lan, Tây Ban Nha. Thế nhưng, trước viễn cảnh giá dầu lửa không ngừng gia tăng trên thế giới, một số nước lại có chính sách tiếp tục phát triển ĐHN  với việc lắp đặt ḷ phản ứng thế hệ III EPR, European Pressurized Reactor, thay thế cho hệ thống ḷ hiện thời. Hồ sơ này đă và đang gây nhiều tranh luận. Sau đây là ư kiến của Gs Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn kinh tế và chiến lược công ty Điện lực Pháp. Gs Nhẫn là chuyên gia theo dơi từ nhiều năm nay t́nh h́nh năng lượng thế giới và đặc biệt ở Việt Nam.

 

RFI : Kính chào Gs Nguyễn Khắc Nhẫn, năm ngoái, Phần Lan là quốc gia đầu tiên trên thế giới đă bắt đầu xây dựng ḷ phản ứng thế hệ 3 EPR. Nước Pháp sẽ tiến hành một dự án tương tự vào năm tới. Trước khi nói về loại ḷ EPR, xin Gs cho biết t́nh trạng các ḷ hạt nhân hiện đang khai thác ?

 

NKN :  Kính chào quư vị thính giả, kính chào Anh.

            Trước hết, cho phép tôi, nhắc sơ qua vài khái niệm kỹ thuật cần biết.

Một kiểu ḷ được định nghĩa bằng sự phối hợp của 3 thành phần.

·         Chất nhiên liệu với các yếu tố ,… (ở đây c̣n tùy bản chất hay trạng thái vật lư).

·         Chất điều độ (modérateur) : hydrogène, graphite, deutérium…

·         Chất truyền nhiệt : nước thường, nước nặng, sodium…

Nếu mỗi chất có 3 đến 5 yếu tố, bài tính tổ hợp cho ta ít nhất là 300 kiểu ḷ khác nhau !

·         Thế hệ I gồm các ḷ UNGG (Pháp), Magnox (Anh).. Những ḷ này đă, hoặc đang được tháo gỡ.

·         Thế hệ II gồm có những ḷ PWR (Pressurized  Water Reactor), BWR của Pháp, Mỹ, Nhật ..., Candu (Canada, Ấn Độ), VVER, RBMK (Nga)

Ưu điểm của ḷ PWR là được thông dụng nhất trên thế giới (gần 75%) nhờ chiếc tàu ngầm Nautilus của Mỹ áp dụng thành công kỹ thuật này lúc sơ khởi năm 1954. Kinh nghiệm ḷ thế hệ II rất phong phú , kể cả bài học đau thương Tchernobyl (ḷ RBMK).

Nhược điểm của ḷ thế hệ II như PWR là công nghệ đă lỗi thời.

Những ḷ này lần lượt sẽ được thay thế khi đến tuổi hưu trí, sau vài chục năm hoạt động (40 năm ở Pháp).

 

RFI : Bây giờ xin Gs giải thích về loại ḷ thế hệ III EPR ?

 

NKN : Ḷ thế hệ III EPR (European Pressurized Reactor) 1600 MW được Framatome (Pháp) và Siemens (Đức) hợp sức nghiên cứu từ 1989.

Anh có nhận xét rất đúng. Phần Lan là nước đầu tiên đang xây cất một ḷ EPR để bớt phụ thuộc về năng lượng với Nga. EDF đang chuẩn bị xây cất một ḷ EPR để giới thiệu (réacteur démonstrateur) tại Flamanville với kinh phí đầu tư là 3 tỷ euros.

Từ đây đến 2025, EDF sẽ dần dần thay thế 58 ḷ PWR. EDF không thể đợi ḷ thế hệ IV (đang được 10 nước nghiên cứu) v́ ḷ này sẽ xuất hiện sau 2035 !

 

RFI : Ḷ EPR có những ưu điểm và hạn chế ǵ và tỷ trọng ĐHN có tăng lên hay không với loại ḷ EPR, thưa Gs ?

 

NKN : EPR là một kiểu ḷ tiến hóa (évolutionnaire) có nghĩa là một công nghệ vừa dựa trên kinh nghiệm quư báu của ḷ PWR vừa bổ sung với những tiến bộ khoa học kỹ thuật.

EPR có nhiều ưu điểm sau đây :

·         Hệ thống an toàn được tăng cường (5 cấp độc lập).

·         Số xác suất tim ḷ bị nóng chảy được hạ thấp (và nếu sự cố xảy ra, sẽ có chổ (réceptacle) thu nhận tim ḷ)

·         Hậu quả phóng xạ được hạn chế.

·         Sự sai lầm của nhân viên vận hành được đề pḥng chu đáo.

·         Nhiên liệu hạt nhân được xử dụng tối ưu.

·         Thời gian tu bổ rút ngắn.

·         Giá thành kWh sẽ giảm một ít.

 

Về sự hạn chế, EPR tuy chưa ra đời mà cũng đă bị xem như lỗi thời v́ cùng một công nghệ với PWR. Người ta c̣n chỉ trích EPR, v́ sử dụng nhiên liệu MOX (gồm Plutonium và Uranium), có thể làm tăng phóng xạ và gây rủi ro tai nạn khủng bố.

Các đảng phái đối lập của Pháp cho rằng EPR không kinh tế mà c̣n nguy hiểm. EDF sẽ bị kẹt thêm 100 năm ! Cuối tuần vừa qua ở Cherbourg có gần 20 ngàn người biểu t́nh chống đối EPR.

Hồ sơ EPR chưa có sự phân tích trái ngược chu đáo (analyse contradictoire) giữa giới chuyên môn và chính phủ Pháp.

            Tỷ lệ ĐHN với ḷ EPR trong 10-15 năm tới không thể tăng nhanh v́ công nghệ chưa trưởng thành, khó được phổ biến rộng rải. Pháp trông cậy nhiều ở thị trường EDF nếu ḷ đầu tiên Flamanville 3 thành công. Cần một thời gian mới biết rơ bệnh tật của EPR .

            Đối với ngoại quốc, Areva đặt hy vọng vào Trung Quốc và  Ấn Độ, nhưng không phải dễ v́ có sự cạnh tranh của Mỹ với ḷ Westinghouse AP 1000. Trung Quốc đă tỏ ư nghiêng về phía Mỹ nếu có sự chuyển giao công nghệ.

 

RFI : Thưa Gs, Việt Nam dự tính xây dựng nhà máy ĐHN vào năm 2020. Như có lần Gs đă phát biểu trên đài phát thanh quốc tế Pháp, thời điểm này không thuận lợi cho Việt Nam trong việc lựa chọn loại ḷ phản ứng ?

 

NKN : Nếu nước ta muốn có nhà máy ĐHN vận hành năm 2020, th́ việc chuẩn bị lựa chọn ḷ không phải là sớm. Thời điểm này không thuận tiện cho Việt Nam.

            Quư bạn thừa biết lập trường của cá nhân tôi : Nước ta không nên xây cất nhà máy ĐHN. Nếu một hai quyết tâm làm, thiết tưởng nên chờ thế hệ IV. Chúng ta có đủ tài nguyên thiên nhiên để đợi đến 2035. Ngày nay, chọn ḷ thế hệ II PWR th́ chẳng khác nào đặt mua chiếc xe 4 CV Renault, kiểu xe taxi chạy những năm 1955. Nếu chọn ḷ EPR có thể xem như đặt mua máy bay Concorde có bánh quạt (à hélices).

            Dù kiểu ḷ nào đi nữa, công nghiệp ĐHN vẫn chưa có lời giải thích đáng về việc xử lư chất thải phóng xạ !

            Hiện ở Pháp có trên 1 triệu chất thải phóng xạ trong đó 2 000 có bức xạ rất cao (haute activité). Các con số này sẽ phải nhân gấp đôi vào năm 2020. Pháp cũng đang tích trữ 50 tấn Pu.

            Về kinh phí tháo gỡ những nhà máy và các cơ sở ĐHN, nước Anh dự trù cần khoảng 100 tỷ euros ! Con số của nước Pháp sẽ lớn hơn nhiều. Đó là chưa kể kinh phí tương đương phải dành cho việc xử lư chất thải phóng xạ.

            Ta không có quyền để cho con cháu và các thế sau thừa hưởng chất thải phóng xạ nguy hiểm và bắt buộc chúng phải trả những món nợ khổng lồ ta vay !

             Đài phát thanh quốc tế Pháp xin chân thành cảm ơn Gs Nguyễn Khắc Nhẫn. Ngày 26 tháng tư tới, RFI sẽ có mọt chương tŕnh đặt biệt nhân 20 năm ngày xảy ra vụ nổ ḷ hạt nhân Tchernobyl. Mời quư vị nhớ đón nghe.

 

 


Tác giả trả lời những câu hỏi và thắc mắc của thính giả 

 

·         Các  kiểu ḷ : thế hệ I, II, III, IV xin xem chi tiết bài « Plutonium: 240 thế kỷ ».

·         Các danh từ UNGG, PWR, BWR, VVER, RBMK : Xin xem bài «Tại sao Việt Nam nên thận trọng đối với Điện hạt nhân ».

·         Tiết kiệm năng lượng và Năng lượng tái tạo. Xin xem bài « Năng lượng tái tạo thay v́ Điện hạt nhân ».

Cả ba bài này được đăng trên mạng www.tailieu.thoidai.org

·         Tuổi hưu trí của các ḷ :

       Pháp lúc khởi sự chương tŕnh ĐHN, ở EDF chúng tôi làm bài toán kinh tế và kỹ thuật căn cứ trên thời gian hoạt động của mỗi ḷ PWR là 20 năm. Sau này với kết quả khả quan, thời gian được đưa lên 30 năm. EDF hy vọng, nếu ḷ nào đủ điều kiện kỹ thuật và tiêu chuẩn an toàn sẽ được nhà nước cho phép vận hành cả thảy 40 năm. 19 nhà máy ĐHN của EDF gồm cả thảy 58 ḷ (34 ḷ 900 MW, 20 ḷ 1 300 MW và 4 ḷ 1 450 MW).

       Mỹ đă có công ty xin kéo dài thời gian vận hành lên 60 năm !

·         Dự án EPR, được Framatome và Siemens hợp sức nghiên cứu từ 1989 nhưng đến 1992 mới đi vào giai đoạn trọng yếu.

Công suất của ḷ EPR 1 600 MW quá lớn đối với các nhà máy và sẽ gây nhiều khó khăn cho việc khai thác hệ thống điện của ta.

·         Ḷ EPR của công ty điện TVO Phần Lan đang được xây cất ở Olkiluoto và theo dự tính sẽ vận hành năm 2009. Hăng Framatome ANP, chi nhánh của Areva và Siemens cung cấp trang bị hạt nhân và Siemens phần điện cổ điển.

·         EDF đă chọn địa điểm Flamanville cho ḷ EPR v́ nhiều lư do :

                     -Ngày nay t́m một địa điểm mới cho một nhà máy ĐHN ở Pháp rất khó v́ phản ứng của dân chúng.

                     -Ở Flamanville, EDF có sẵn đất rộng 60 ha nằm cạnh bờ biển và cũng đă có hai ḷ PWR đang vận hành. Nơi đây c̣n có vài cơ sở hạt nhân quan trọng khác.

·         Với ḷ thế hệ IV, có thể nói là có một bước nhảy công nghệ (saut technologique) rất lớn, trái với EPR vẫn c̣n áp dụng công nghệ PWR.

Ḷ thế hệ IV sẽ được an toàn hơn và chất thải phóng xạ sẽ ít đi, nhưng bài toán xử lư chất thải vẫn không có lời giải đáp thỏa đáng !

·         Ngoài EPR, thế hệ III c̣n có 1 số ḷ khác như :

                        SWR 1 000 – 1 250 MW Pháp-Đức

                        ABWR 1 300 Mỹ-Nhật

                        VVER 1 000 V392 Nga

·         Lấy ví dụ 4 CV Renault (có vẻ khiêu khích) cốt để nhắc lại thời điểm chiếc tàu ngầm Nautilus (1954), xe Renault này lúc bấy giờ chạy rất tổt như những ḷ PWR của EDF mấy chục năm nay.

·         Ví dụ Concorde có bánh quạt (Concorde à hélices) là của 3 tác giả trong bài EPR : il est urgent d’attendre (báo le monde 18/10/2003).

·         Trường hợp Trung quốc khác hẳn nước ta. Để giảm số lượng dầu mỏ nhập cảng với giá mỗi baril ngày một cao (nay đă lên quá 72 dollars US), Trung Quốc bắt buộc phải xây cất thêm một số nhà máy ĐHN.

Họ có thể tiếp tục mua ḷ PWR v́ đă có nhiều kinh nghiệm, đồng thời đầu tư vào ḷ thế hệ III với mục đích triệt để lợi dụng sự chuyển giao công nghệ.

 

[Trang Chủ] [ĐIỆN HẠT NHÂN] [ĐIỆN NHIỆT HẠCH HẠT NHÂN] [NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO] [KINH-TẾ] [HỆ THỐNG DÂY CAO THẾ] [Louis Néel, Nobel Vật lư, một Giáo sư lư tưởng] [Louis Néel, un prix Nobel de Physique exceptionnel]

Thư-từ, bài-vỡ và ý-kiến xin gởi về cho hoặc phutho68@gmail.com

Cập-nhật 03/06/2012